Chapter 4 (part 2) – Tempt Me at Twilight

Khi Jake vội vã đến dãy phòng riêng gồm các phòng không được đánh số ở tầng ba, anh đã đi qua rất nhiều người làm ở các cầu thang phía sau. Những cầu thang này, và các lối vào ở đằng sau khách sạn, được sử dụng chỉ bởi người hầu và những người giao hàng khi họ tiến hành công việc hằng ngày của mình. Có vài người cố cản Jake lại với những câu hỏi hay những mối bận tâm, nhưng anh chỉ lắc đầu và sải bước nhanh hơn. Jake đã rất cẩn thận để không bao giờ bị muộn trong những cuộc họp buổi sáng với Mr Rutledge. Những buổi bàn bạc đó thường ngắn thôi, không lâu hơn 15 phút, nhưng Rutledge đòi hỏi sự đúng giờ.

Jake dừng lại trước lối vào dãy phòng được ẩn đằng sau một hành lang cá nhân nhỏ lát đá cẩm thạch và trưng bày đầy các tác phẩm nghệ thuật vô giá. Một lối hành lang an toàn bên trong dẫn đến một cầu thang kín đáo và cửa bên hông của khách sạn, để mà Rutledge không bao giờ phải sử dụng lối đi ngoài sảnh chính cho những lần đến và đi của mình. Rutledge, người luôn thích có được thông tin về mọi người khác, lại không cho phép bất kì ai khác làm giống mình. Anh ấy ăn phần lớn các bữa trong riêng tư, và đến và đi như anh muốn, đôi khi cũng chẳng có dấu hiệu nào cho biết là khi nào anh sẽ trở lại nữa.

Jake gõ vào cửa, và đợi đến khi anh nghe thấy một lời cho phép vào không rõ ràng. Anh bước vào dãy phòng, một dãy bốn căn phòng thông nhau, cái mà có thể được mở rộng ra thành một căn hộ rộng như một người mong muốn, lên đến tận mười lăm phòng. “Chào buổi sáng, Mr Rutledge,” anh nói, đi vào căn phòng làm việc.

Người chủ nhân của khách sạn đang ngồi trên một chiếc bàn to làm bằng gỗ dái ngựa, khớp với một cái tủ nhiều ngăn kéo và khoảng không. Như thường lệ, cái bàn chất đầy các cuốn sổ, giấy tờ, các quyển sách, thư từ, danh thiếp, một hộp tem, và một dãy các thứ đô dung để viết. Rutledge đang gấp lại một lá thư, và cẩn thận ấn con dấu lên một cái hồ sáp nóng.

“Chào buổi sáng, Valentine. Buổi họp của nhân viên đã diễn ra thế nào?”

Jake trao cho anh ta một cuộn giấy có các báo cáo của người quản lí. “Mọi thứ diễn ra trôi chảy, trong phần lớn cuộc họp. Có một vài vấn đề với nhóm người ngoại giao từ Nagaraja thôi ạ.”

“Oh?”

Vương quốc bé xíu Nagaraja, nằm xen giữa Burma và Siam, vừa mới trở thành một đồng minh của nước Anh. Sau khi đề nghị giúp đỡ những người Nagaraja ngăn chặn sự xâm lấn của người Siam, nước Anh đã khiến cho đất nước đó trở thành một trong quốc gia dưới quyền bảo hộ của mình. Điều đó cũng tương tự như là bị kìm kẹp dưới móng vuốt của một con sư tử và đồng thời lại được thông báo bởi chính con sư tử đó rằng bạn đang cực kì an toàn vậy. Bởi vì người Anh đang chiến đấu với người Burma và giành quyền kiểm soát các tỉnh ở khắp nơi nên những người Naragaja đã cực kì hi vọng rằng sẽ giữ được chính quyền của họ. Để đến gần hơn với kết cục đó, vương quốc này đã gửi một nhóm 3 đặc phái viên cấp cao trong một sứ mệnh ngoại giao đến Anh, mang theo những tặng vật đắt giá để thể hiện lòng thành kính Nữ hoàng Victoria.

“Viên quản lí bộ phận lễ tân,” Jake nói, “đã phải thay đổi phòng của họ ba lần từ khi họ tới đây vào chiều qua.”

Cặp lông mày của Rutledge nhướn lên. “Có vấn đề với các căn phòng à?”

“Không phải bản thân các căn phòng… mà là các số phòng, theo quan niệm duy tâm của người Naragaja thì không cho thấy dấu hiệu của một tương lai hứa hẹn. Chúng ta cuối cùng đã phải xếp họ ở phòng 218. Mặc dù vậy, không lâu sau đó, người quản lí tầng hai phát hiện có mùi khói toả ra từ dãy phòng này. Dường như là họ đang thực hiện một nghi lễ kỉ niệm việc đi đến một vùng đất mới, bao gồm việc khơi lên một ngọn lửa nhỏ trên một cái đĩa đồng. Thật không may là ngọn lửa vượt ngoài khả năng kiểm soát, và tấm thảm bị cháy sém.”

Một nụ cười làm cong khuôn miệng Rutledge. “Như tôi nhớ thì người Naragaja có các nghi lễ cho gần như mọi điều. Hãy chắc chắn rằng tìm được một địa điểm thích hợp để cho họ khơi lên bao nhiêu ngọn lửa thiêng họ muốn mà không đốt khách sạn ra tro.”

“Vâng, thưa ngài.”

Rutledge lật nhanh qua các bản báo cáo của các vị quản lí. “Tỉ lệ cư ngụ hiện tại của chúng ta là bao nhiêu?” anh hỏi mà không hề nhấc mắt lên.

“95% thưa ngài.”

“Tốt.” Rutledge tiếp tục đọc kĩ các báo cáo.

Trong sự im lặng sau đó, Jake để tia nhìn của mình lang thang qua cái bàn. Anh thấy một lá thư đề địa chỉ gửi đến Miss Poppy Hathaway, từ Quý ngài Michael Bayning.

Anh ta tự hỏi tại sao nó lại nằm trong sự sở hữu của Rutledge được nhỉ. Poppy Hathaway… một trong các chị em gái của một gia đình cư ngụ ở khách sạn Rutledge trong suốt cả mùa lễ hội London. Giống như các gia đình quý tộc không có dinh thự ở thành phố, họ bắt buộc phải hoặc là thuê một ngôi nhà có sẵn đồ đặc hoặc là ở lại trong một khách sạn tư nhân. Gia đình Hathaway đã là những người khách trung thành của khách sạn Rutledge được ba năm rồi. Có thể nào Poppy là cô gái mà Rutledge đã bị nhìn thấy là đang ở cùng sáng nay không nhỉ?

“Valentine,” vị chủ nhân khách sạn nói một cách thoải mái, “Một trong những cái ghế của tôi ở căn phòng chứa vật dụng kì lạ cần phải được thay vỏ bọc. Đã có một tai nạn nhỏ sáng nay.”

Jake thường không quá ngốc nghếch mà đi đặt ra các câu hỏi, nhưng anh đã không thể kìm chế được. “Loại tai nạn nào vậy ạ, thưa ngài?”

“Đó là môt con chồn sương. Tôi tin là câu chàng đang cố tạo một cái tổ trong những cái đệm.”

Một con chồn sương à?

Gia đình Hathaway rõ ràng là có liên quan.

“Loài động vật đó vẫn chưa bị bắt ạ?” Jake hỏi.

“Không, nó đã được mang đi rồi.”

“Bởi một trong các chị em gái nhà Hathaway phải không ạ?” Jake gợi ý.

Một tia cảnh báo loé lên trong đôi mắt màu xanh lá điềm tĩnh. “Phải, đúng thật là thế đấy.” Đặt những bản báo cáo sang bên cạnh, Rutledge dựa trở lại vào chiếc ghế của mình. Tình trạng thoải mái đi ngược lại với những tiếng gõ nhịp đều đều liên tục của các ngón tay anh khi đặt bàn tay mình trên bàn.  “Tôi có vài việc lặt vặt cho anh đây, Valentine. Đầu tiên, đi đến tư dinh của Quý Ngài Andover trên phố Upper Brook. Sắp xếp một cuộc hẹn giữa tôi và Andover trong vòng hai ngày tới, tốt hơn là nên ở tại đây. Làm rõ rằng sẽ không ai biết về nó, và gây ấn tượng với Andover rằng đây là một trong những vấn đề cực kì quan trọng.”

“Vâng, thưa ngài.” Jake không nghĩ có bất kì chút khó khăn nào trong việc thực hiện những sự sắp xếp đó. Bất cứ khi nào Harry Rutledge muốn gặp một ai đó, họ đều tuân theo mà không hề trì hoãn. “Quý Ngài Andover là cha của Mr. Michael Bayning phải không ạ?”

“Là ông ta.”

Cái thứ quỷ quái gì đang diễn ra vậy?

Trước khi Jake có thể đáp lại, Rutledge đã tiếp tục với cái danh sách các việc. “Tiếp theo, mang cái này- ” anh trao cho Jake một cuốn bản thảo khổ nhỏ được buộc bằng dây da, “ – cho Sir Gerald ở War Office. Đặt nó trực tiếp vào tận tay ông ấy nhé. Sau đó, đi đến tiệm Watherston and Son, và mua một cái vòng cổ hoặc một cái vòng tay bằng tài khoản của tôi. Cái nào tinh tế ấy, Valentine. Và chuyển nó cho Ms Rawlings ở dinh thự nhà cô ả nhé.”

“Với lời ca tụng của ngài chứ ạ?” Jake hỏi đầy hi vọng.

“Không, với lời ghi chú này.” Rutledge trao cho anh ta một lá thư đã được đóng kín. “Tôi đang tống khứ cô ả đi đấy.”

Khuôn mặt Jake xịu xuống. Chúa ơi. Một cảnh khác. “Thưa ngài, tôi thà là đi làm một việc vặt ở khu Đông London và bị đánh túi bụi bởi những tên cướp đường còn hơn.”

Rutledge mỉm cười. “Điều đó có thể xảy ra muộn hơn trong tuần đấy.”

Jake trao cho ông chủ của mình một cái liếc mắt biết nói và rời đi.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: